LÒNG NHÂN TỪ VƯỢT THẮNG SỰ CÔNG BẰNG

(Ex 32:7-11, 13-14; 1 Tim 1:12-17; Lk 15:1-32)

Một lần kia, các tu sĩ trong miền dẫn tới Đức Giám Mục Amôna một thiếu nữ mang bầu mà không có thanh niên nào nhận và các tu sĩ xin ngài ra hình phạt. Nhưng Đức Cha đã ban phép lành cho thai nhi, rồi ra lệnh ban cho cô sáu tấm vải bằng lanh mịn. Những tu sĩ tố cáo lại nói: - Tại sao Đức Cha làm như thế? Xin ra cho nó một hình phạt. Nhưng Đức Cha ôn tồn bảo: - Anh em thử nghĩ xem, cô ta đã đau khổ muốn chết được, tôi còn phải làm gì hơn nữa? Nói thế rồi, ngài cho cô về. Từ đó, không một tu sĩ còn dám tố cáo ai nữa.

Ông bà anh chị em thân mến, bài tin mừng của Thánh Luca chúng ta vừa nghe giúp chúng ta suy niệm trên hai điều, đó là cách con người tính toán khi lập luận về công bằng hay công lý trong đời sống thường nhật và cách Chúa lập luận và hành động về công bằng dựa trên lòng nhân từ , tình yêu hay ân sủng của Ngài.

CÔNG BẰNG / CÔNG LÝ TRONG ĐỜI SỐNG THƯỜNG NHẬT

Trước hết trong đời sống thường nhật, đa số chúng ta lập luận về công bằng hay công lý dựa vào quan niệm của gia đình, xã hội hay văn hóa. Công bằng hay công lý là gì? Công bằng hay công lý là nếu có ai làm thiệt hại cho mình thì mình có quyền trả đủa cân xứng. Chúng ta thường nghe ông ăn chả bà ăn nem là một lối suy nghĩ về công bằng, công lý. Hoặc nếu anh có tội thì phải đền bù, có mắc nợ thì phải trả. Hay nếu anh là thợ thì phải được trả xứng đáng với công sức, nếu anh là thầy giáo thì phải giữ thể diện khi hành nghề, nếu anh là học trò thì phải biết lễ độ vv…Vì thế công bằng hay công lý theo lập luận này thường mặc nhiên công nhận có sự cách biệt giữa thầy và trò, chủ và thợ, giữa kẻ có quyền và kẻ nô lệ, giữa nam và nữ, giữa kẻ trên người dưới, giữa người coi là đạo đức và kẻ tội lỗi v.v., và muốn thi hành công bằng hay công lý cũng phải có tính toán, có luật lệ, có điều kiện thì tòa án công lý mới phân biệt trắng đen được. Công bằng hay công lý theo quan niêm trên thì vẫn hơn là thiếu công bằng hay bất công, hơn là dùng bạo lực hoặc quyền hành áp chế người khác.

LẬP LUẬN CÔNG BẰNG CỦA CHÚA DỰA TRÊN LÒNG NHÂN LÀNH, TÌNH YÊU VÀ ÂN SỦNG

Ngược lại với quan niệm công bằng hay công lý của đa số chúng ta, Chúa lập luận, hành động khi thực hiện sự công chính của Ngài một cách lạ lùng, nếu không muốn nói là điên dại theo cái nhìn của con người về công bằng hay công lý. Sư công chính của Ngài ở lòng nhân lành, tình yêu và ân sủng. Sự công chính của Chúa, do đó vượt lên trên cả sự công bằng hay công lý của con người. Vừa mở đầu bài tin mừng, chúng ta thấy những người Pharisiêu và các kinh sư lẩm bẩm rằng: “Ông này đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với bọn chúng.” Họ không hài lòng vì Chúa Giêsu không giữ lề luật, lỗi phạm công lý, bởi vì họ quan niệm công công lý đòi hỏi sự ngăn cách giai cấp, ở đây là phải có ngăn chia giữa Chúa Giêsu, giữa họ và các người thu thuế, những người tội lỗi. Để trả lời cho sự lên án, Chúa Giêsu đưa ra hai dụ ngôn nhằm giải thích lối suy nghĩ, tính toán và thực hiện sự công chính của Ngài dựa trên lòng nhân hậu, tình thương thật lạ lùng của Ngài.

Dụ ngôn thứ nhất về người mục tử để chín mươi chín con chiên đi tìm chỉ một con chiên lạc. Thoạt nghe, ai trong chúng ta lại không đặt vần đề công bằng! Các người Pharisiêu và kinh sư chắc nỗi khùng lên được. Lỡ có chuyện gì xảy ra cho 99 con chiên đó thì sao đây? Họ càng khùng lên khi người mục tử tìm được con chiên lạc mừng rỡ vác lên vai rồi mời bạn bè, hàng xóm chung vui với ông ta. Sao lại quan tâm đặc biệt đến nó thế, công bằng với 99 con chiên kia ở đâu. Người mục tử này chắc điên rồi sao! Thật ra, họ không hiểu được Chúa vẫn quan tâm đến 99 con chiên đó, họ không hiểu rằng chỉ vì mối tương quan quá mật thiết với từng con chiên mà người mục tử chính là Chúa miêt mài tìm kiếm.

Dụ ngôn thứ hai vê người phụ nữ đánh mất một đồng quan mà phải vất vả thắp đèn, mà thời nay chắc lật hết bàn hết ghế, hết sofa hết giường tủ, quét khắp nơi, moi móc từng gốc nhà kẻ hở để tìm cho bằng được. Theo lẽ công bằng bình thường, thì hành động này chẳng cân xứng gì cả, cho dù đồng tiền trị giá cả ngày làm công. Nhưng phải vất vã tìm kiếm cho bằng được vì người phụ nữ trân trọng, quý hóa đồng tiền của chính mình, do công sức của mình. Chinh vì thế mà tìm được một đồng tiền rồi mời bạn bè, hàng xóm chung vui. Chắc người được mời tham dự cũng tự hỏi chẳng lẽ có chuyện kỳ lạ này sao, tổ chức tiệc vui còn phí tổn gấp bao lần một đồng quan tiền bị đánh mất. Hay người phụ nữ này đã hành động cách điên rồ chăng! Thưa không, vì hành động này là hành động cho thấy Thiên Chúa yêu quý tạo vật của Chúa biết dường nào và không muốn mất một ai cả.

Hai dụ ngôn trên đây để dẫn vào dụ ngôn người cha nhân lành nhằm diễn tả cách tuyệt với cách suy nghĩ, tính toán, hành động công chính dựa trên lòng nhân hậu bao la, tình yêu vô bờ của Chúa, trước cách suy nghĩ, tính toán, hành động để đòi cho được công bằng hay công lý của người con thứ lẫn người con cả. Người con thứ, theo tập tục Do Thái , được hưởng phần gia tài khi người cha chết, nghĩa là người con thứ có quyền. Ở đây, anh đòi phẩn gia tài của anh trong lúc cha còn sống, thì một cách nào đó anh cũng muốn cha anh ra đi cho sớm. Thế mà người cha cũng chiều con, chia gia tài cho con. Theo lẽ công bằng hay công lý, người cha này hẳn tính toán và hành động điên rồ. Rồi người con cả, khi hay tin cha mình đồi xử với em mình bằng yến tiêc, bê béo, xỏ nhẫn mới, mặc áo mới, đãi tiệc… chuộc lại địa vị cho em mình thì đem lòng ghen tị. Cả cuộc đời hầu hạ cha mà chẳng thấy phần thưởng đâu cả. Ghen tị là phải, nổi giận là phải, không chịu vào nhà là phải, bởi vì người cha tính toán và hành động hoàn toàn ngược lại với công bằng mà xã hội quan niệm. Nếu đặt mình vào hoàn cảnh của anh, chắc một số chúng ta nỗi khùng lên được! Người cha này quá bất thường!

Thế nhưng, thưa ông bà anh chị em, qua ba dụ ngôn trên, Thiên Chúa quả đã quá yêu thương chúng ta nên mới mang hình ảnh điên rồ của người mục tử, của người phụ nữ mất một đồng tiền và của người cha luôn thao thức chờ mong con tôi trở về. Nếu như chúng ta nhận rõ mình là con chiên lạc, nhận rõ mình là đồng tiền bị đánh mất, nhận rõ mình là người con thứ lẫn người con cả, nghĩa là nhận rõ mình là người tội lỗi, người hay lầm đường lạc lối, chúng ta khao khát được thấy sự điên rồ của Chúa dáng xuống trên chúng ta, chúng ta hẳn phải khóc lên vì Chúa vất vã vì mình quá. Thiên Chúa ròng rã từ muôn thế hệ đi tìm tội nhân, và cùng với cả thiên đình rất vui mừng, sung sướng, hân hoan khi chỉ có một tội nhân ăn năn trở lại.

Giá như Thiên Chúa lập luận công bằng hay công lý như các người Pharisiêu, kinh sư, hay các tu sĩ trong câu chuyện mở đầu bài suy niệm, chắc chắn chúng ta đã bị lên án hết rồi. Hay giá như Thiên Chúa lập luận về công bằng hay công lý đối với chúng ta như đa số chúng ta thường áp dụng đối với con cái, với vợ với chồng, với bạn hữu, và với nhau- chắc hẳn chúng ta cảm thấy tự do bị hạn chế. Khi người mục tử mời bạn bè, hàng xóm chung vui vì tìm được con chiên lạc, khi người phụ nữ mời bạn bè, hang xóm chung vui vì tìm được đồng tiền đánh mất, khi người cha già kêu bắt con bê béo để mở tiệc, tất cả là để ăn mừng ngày phục hồi lại tự do cho người tội lỗi, tự do hoàn toàn, tư do vô điều kiện. Sự khác biệt vô song giữa con người và Thiên Chúa lập luận về công bằng hay công lý là đối với con người công bằng hay công lý cần dựa trên điều kiện trong khi đối với Thiên Chúa, Ngài chỉ dựa vào ân sủng, chẳng có điều kiện gì, miễn là kẻ có tội ăn năn xám hối.

Pt. Giuse Nguyễn Sĩ Bạch

© 2015 photevnusa.org