YÊU THƯƠNG NHƯ NGƯỜI SAMARITAN NHÂN HẬU

Trong thời gian hành hương nơi Đất Thánh năm 2007, tôi có dịp quan sát rất kỹ đoạn đường “hẻo lánh” từ Jerusalem tới Jericho, địa danh được Thánh Luca nhắc tới trong câu chuyện Người Samaritan Nhân Hậu trong bài Tin Mừng hôm nay. Đây là một trong những dụ ngôn rất hay và cảm động nhất trong toàn bộ Phúc Âm qua ngòi bút của Thánh ký Luca. Cảm động vì nói đến sức mạnh của tình thương. Tình thương biến đổi tình người xa lạ bên ngoài thành tình láng giềng thân thuộc từ trái tim rộng mở bên trong. Câu chuyện có sức thu hút người đọc (hay nghe) gạt bỏ mọi chướng ngại bên ngoài như chủng tộc, văn hóa, cộng đồng dị biệt để lên đường và bắt chước hành động của con tim một người theo Đức Kitô. Câu chuyện cũng đã làm cho cá nhân tôi, một giáo sĩ trong Giáo hội “nhột” không ít khi đọc và suy nghĩ đến hành động của vị trợ tế trong dụ ngôn.

Câu chuyện đã làm lung lay não trạng “dẫm chân tại chỗ” của người thông luật suốt đời chỉ giữ lề luật đạo tốt như cộng đồng văn hóa của ông ta dạy từ thuở nhỏ. Khi trả lời cho ông ta về “sự sống đời đời”, Chúa Giêsu đã chỉ cho cá nhân ông, và chúng ta nữa, con đường yêu thương qua dụ ngôn. Trong đó, Người Samaritan Nhân Hậu đã cảm thương đối với một người xa lạ đang trong tình trạng nguy kịch, và cần đến sự săn sóc của bất cứ ai qua đường.

Thánh Bernado đã giảng: “Ai ai cũng có thể nhìn thấy được sự việc xảy ra chung quanh mình, và chỉ một số ít nhận ra và đặt câu hỏi tại sao sự việc xảy ra, nhưng chỉ có một số rất ít người có thể cảm thương với người trong cuộc nơi sự việc xảy ra.”

Cảm thương là cảm nhận và thương yêu, cùng đau đớn trong tâm can với, cùng san sẻ niềm đau và nỗi khổ. Cảm thương là đồng cảm với người đang đau khổ, xấu hổ hay thiếu thốn. Đây là tâm tình của Đức Maria khi Mẹ thấy gia chủ hết rượu ở tiệc cưới Cana. Mẹ đã không chỉ nhận ra sự việc hết rượu, cảm thương với nỗi lo lắng, xấu hổ của gia đình đôi tân hôn, mà Mẹ còn ra tay hành động trợ giúp họ. Đây cũng chính là tâm tình của Chúa Giêsu, qua dụ ngôn Người Samaritan, đã ra tay hành động do lòng cảm thương giữa người với người, giúp nhau trong cơn khốn khó.

Chúng ta cũng có thể đã đôi lần nhìn thấy anh chị em cần đến bàn tay giúp đỡ, đã làm như vị tư tế hay trợ tế đã làm: tránh né nạn nhân vì lý do bận rộn việc gia đình, hay sợ dơ bẩn tay chân mình, hoặc sợ bị liên lụy, trả thù “không phải đầu, phải tai!”

Cảm thương đòi buộc cá nhân mỗi cởi bỏ cái vỏ ốc tiện nghi để tới với những ai cần đến sự giúp đỡ của chúng ta. Cho dù tay chân chúng ta có phải dơ bẩn hay thanh danh phải liên lụy vì giai cấp giàu nghẻo, vì khác biệt tôn giáo hay chủng tộc v.v…

Người Samaritan Nhân Hậu chỉ cho tín hữu chúng ta biết thế nào là cảm thương và hành động như Chúa muốn. Ông ta có thể lấy cớ nầy hay cớ nọ để làm như trợ tế và tư tế đã làm là tránh qua một bên để đi qua. Ông cũng có thể đóng cửa tâm hồn lại và từ chối lời mời gọi của lương tâm là giúp đỡ kẻ nằm bên đường. Nhưng ông đã dừng lại, cúi xuống bên cạnh kẻ xa lạ đang bị thương. Cử chỉ dừng lại, cúi xuống hỏi han nạn nhân không phải là một hành động bâng quơ hay tò mò suông mà phát xuất từ tình thương. Sự cảm thương của Người Samaritan đã khiến ông làm từ hành động tốt nầy tới hành động tốt khác cho nạn nhân. Trước hết, ông băng bó các vết thương, sau đó mang nạn nhân tới quán trọ, trả tiền nhờ người săn sóc v.v…

Tình thương là làm như Người Samaritan Nhân Hậu đã làm. Tình thương cũng đòi buộc người tín hữu chúng ta làm như Chúa Giesu đã làm. Dù là một vì Thiên Chúa, Ngài đã khiêm hạ mặc lấy xác phàm con người nhân loại để hiến tế tính mạng mình cho chúng ta. Câu chuyện cảm động nầy đã được lưu truyền hơn hai ngàn năm qua, nhưng mỗi lần nghe nhắc lại, cũng là mỗi lần làm rung động lòng người. Dụ ngôn đã dạy chúng ta bài học về sự cảm thương giữa tình người với người và khiến chúng ta muốn làm một điều gì để diễn tả việc thông phần với mọi phần tử trong Giáo hội Chúa.

Cuối cùng, dụ ngôn hôm nay một lần nữa nhắc nhở mỗi chúng ta nhớ lại dụ ngôn Ngày Phán Xét Chung (Mt 25:31-46) trong đó Chúa Giêsu sẽ phán xét từng người về hành động họ đã làm khi còn tại thế. Trong đời dương thế, Chúa Giêsu đã đồng hóa Ngài với những người thiếu thốn, người đói khát, người xa lạ, trần truồng, đau ốm và tù tội: “Khi các con làm cho một trong những người nhỏ mọn nhất, tức các con đã làm cho chính Ta.” (Mt. 25:40) Sự sống đời đời mà người luật sĩ hôm nay đang tìm kiếm là sự sống ở đời sau. Có được sự sống đời đời ở đời sau tùy thuộc vào cuộc sống hiện tại ở đời nầy. Người may mắn giúp người thiếu thốn ở đời nây trong khi người thiếu thốn giúp người may mắn ở đời sau trong sự tương quan liên đới Kito hữu. Hậu quả của một cuộc sống gom góp, tích lũy, chỉ biết nhận hay một đời cho đi tùy thuộc quyết định ngay bây giờ của chúng ta. Người Kito hữu không chỉ tuân phục các điều răn Chúa dạy mà còn phải sống và thực hành các điều răn nữa. Nói cách khác, muốn đến gần Chúa hơn mỗi ngày, người tín hữu phải tự tìm ra đâu là việc sắp đến để làm. Bởi vì nếu chỉ muốn giữ đạo không thôi, đạo sẽ mất. Nhưng nếu sống đạo thì đạo sẽ còn và còn tồn tại tới các thế hệ sau.

Yêu Chúa và thương người phải trở nên một hành động song song như đồng tiền hai mặt. Yêu người nhỏ mọn nhất chúng ta gặp Đức Kitô, và trong Đức Kitô, chúng ta gặp Thiên Chúa vậy.

Phó Tế Phêrô Đặng Phi Hùng

© 2015 photevnusa.org