CÁCH XƯNG HÔ: PHÓ TẾ hay THẦY SÁU?

Trước thời Vatican II, người Việt Nam có thói quen dùng chữ “thầy" để gọi những người đi tu (brother, seminarian) và những người có chức nhỏ (minor orders), như chức giữ cửa, chức đọc sách, chức trừ quỷ, chức giúp lễ (thầy năm), chức phó tế (thầy sáu), trước khi chịu chức linh mục (chức bẩy).

Nhưng sau Công Đồng Vatican II, với tự sắc Ministeria quaedam mà ĐGH Phaolô VI ban hành năm 1972, các chức nhỏ nói trên đã bị huỷ bỏ và được thay thế bằng các thừa tác vụ (ministries), ngoại trừ "Acolyte" (giúp trong thánh lễ), và giáo dân được khuyến khích tham dự các tác vụ này, chứ không chỉ giới hạn cho các đại chủng sinh như trước đây. Bởi đó, ngày nay chúng ta thấy có các giáo dân là thừa tác viên, như ttv đọc sách, ttv Thánh Thể. "Acolyte" là một "institution" (quy định) chứ không phải là một "minor order" (chức nhỏ). Do đó, bây giờ người ta không còn gọi là "thầy giúp lễ" hay "chức giúp lễ" nữa.

Đối với phó tế, nhiều người dùng chữ "thầy" trong cách xưng hô với một phó tế, nhưng chữ "thầy" quá rộng để diễn tả đúng vai trò của một phó tế. Chữ "thầy" có thể là thầy giáo, thầy tu, thầy dòng, v.v. Và người Việt Nam để phân biệt phó tế với các thầy khác, họ dùng chữ "thầy sáu", hoặc "thầy phó tế", những chữ này cũng không được đúng lắm.

Chữ "thầy sáu" thì sai với hệ thống phẩm trật trong Giáo Hội hiện nay, vì bây giờ bí tích chức thánh chỉ còn chức giám mục, linh mục, và phó tế, chứ không còn đi theo thứ tự từ một đến bẩy.

Chữ "thầy phó tế" thì lập lại hai lần cùng một nghĩa, tương tự như "cha linh mục". Hoặc là cha, hoặc là linh mục chứ không ai dùng cả hai. Hoặc là thấy, hoặc là phó tế. Ngoài ra, phó tế vĩnh viễn thì có vợ, nhiều người Việt Nam khi gọi một phó tế "thầy sáu" thì tự động họ gọi vợ của phó tế là “cô sáu” - vì thói quen dùng chữ “thầy cô” để gọi những giáo chức - và như vậy sẽ không đúng với sự thật, bởi vì trong Hội Thánh Công Giáo hiện thời không có nữ phó tế hay “cô sáu”!

Vì sự thay đổi của Giáo Hội về bí tích chức thánh, người Việt chúng ta nên gọi là "phó tế" thay cho "thầy sáu", và với vợ chồng phó tế, danh xưng đúng sẽ là “phó tế T. và phu nhân,” hoặc bình dân hơn, “phó tế T. và bà”, “phó tế T và chị”, hay “phó tế T và cô”, nhưng đừng bao giờ dùng chữ “thầy cô sáu”.

Về danh xưng "cụ sáu", người Việt trước thời Vatican II thường dùng danh xưng này với tính cách mỉa mai các thầy sáu bị đầy đọa không được làm linh mục mà ở chức sáu rất lâu. Theo sự giải thích ở trên, chúng ta cũng nên bãi bỏ.

Thay đổi thói quen là một khó khăn - dù bất cứ điều gì - nhưng nếu không thay đổi, vô tình chúng ta đã tạo thành một tiền lệ không đúng mà sau này còn khó sửa hơn nữa.

Pt Giuse Trần Văn Nhật

© 2015 photevnusa.org