LỜI NGUYỆN GIÁO DÂN

Một cách tổng quát, Thánh Lễ được chia thành hai phần chính: Phụng Vụ Lời ChúaPhụng Vụ Thánh Thể. Phụng Vụ Lời Chúa gồm các bài đọc, bài giảng và được chấm dứt bằng “General Intercessions” (Lời Nguyện Chung hay Lời Nguyện Giáo Dân [LNGD]), nó tạo thành một nối kết giữa các bài đọc trong ngày và những ý định nẩy sinh từ ý nghĩa các bài đọc hôm đó.

Trong LNGD, sau khi lắng nghe toàn thể Phụng Vụ Lời Chúa, giáo dân được chuẩn bị tốt hơn để tham dự phần còn lại là Phụng Vụ Thánh Thể. Đó là, họ được nghe những lời an ủi, trìu mến của Chúa, cũng như những thách đố hay hy vọng, và sẵn sàng đáp trả lời mời gọi của Chúa trong sự chúc tụng, ngợi khen, và cảm tạ.

Trở Ngại

LNGD là điều mà nhiều giáo sĩ gặp trở ngại để hiểu cho đúng, vì các lời cầu này không được giải thích rõ trong “2000 General Instructions of the Roman Missal” (GIRM – Quy Chế Tổng Quát Thánh Lễ Rôma năm 2000) số 69 – 71. Do đó, chúng ta cần nhìn đến nghĩa kỹ thuật của những chữ được đặc biệt sử dụng và các thí dụ trong sách lễ.

Sách Quy Chế không dùng chữ “cầu xin” (petition) mà dùng chữ “ý chỉ” (intention). Một “ý chỉ” là một tiêu đề hay một tiêu điểm để cầu nguyện, và chữ này thường được dùng khi xin lễ để cầu cho một “ý chỉ” đặc biệt nào đó. Theo nghĩa chữ, một “ý chỉ” thì không phải là lời cầu xin, cầu bầu hay cầu nguyện, nhưng là tiêu điểm cho lời cầu xin sau đó. Nó là một phát biểu đơn giản của một người với một người khác. Như vậy, các tiêu điểm cầu nguyện được nói lên trong Lời Nguyện Giáo Dân là những “ý chỉ”, chứ không phải lời cầu xin.

Có hai chỗ trong sách lễ mà lời nguyện chung được tìm thấy và được sử dụng như kiểu mẫu cho LNGD. Một là trong nghi thức phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh, có những lời được viết từ vài thế kỷ trước. Hai là trong Phụ Lục I, có một vài lời được thêm vào sau khi Sách Lễ Rôma được sửa đổi vào cuối thập niên 1960.

Các LNGD Thứ Sáu Tuần Thánh theo một kiểu đặc biệt và cổ xưa của Giáo Hội La Mã, trong đó có một lời cầu xin đặc biệt ngay sau từng ý chỉ và, theo truyền thống, toàn thể giáo đoàn chỉ đáp lại “Amen” để kết thúc lời cầu xin của vị chủ tế. Tuy nhiên, kiểu hành văn của các “ý chỉ” này thì đáng ghi nhận, vì trong đó, hiển nhiên, mỗi lời nguyện là một phát biểu được nói với giáo đoàn chứ không phải một lời cầu xin với Thiên Chúa (ngay cả câu đầu và câu cuối được mở đầu với chữ “Dear friends” [anh chị em thân mến]). Các “rubric” (luật chữ đỏ) được sửa đổi sau này trong sách lễ nói rõ rằng phần dẫn nhập LNGD do phó tế công bố thay vì vị chủ tế (như thông lệ của Thánh Lễ Tridentinô).

Cách hành văn của phần LNGD là kiểu cách nói với giáo đoàn, nó là hình thức vẫn được duy trì trong Phụ Lục của sách lễ để làm mẫu cho LNGD. Trong mọi trường hợp, phó tế (hoặc một thừa tác viên khác, thay vì chủ tế) nói với giáo đoàn và cho họ biết những gì phải cầu xin. Mỗi một lời nguyện có thể mở đầu bằng “Anh chị em thân mến.” Theo kiểu cách này, các lời nguyện tiếp theo sẽ có ý nghĩa. “Lời cầu xin của giáo dân” thực sự xảy ra khi giáo đoàn cầu nguyện trong thinh lặng hoặc cùng đáp chung, tỉ như ,“Xin Chúa nhận lời chúng con,” “Kyrie, eleison” (xin Chúa thương xót chúng con).

Theo truyền thống La Mã, phó tế hay thừa tác viên đọc sách không nói bất cứ “lời cầu xin” nào với Thiên Chúa. Lời cầu ấy được dành cho vị chủ tế, là người sẽ thay mặt cho giáo đoàn dâng lên những lời nguyện này. Trong một ít trường hợp, toàn thể giáo đoàn có thể cầu xin với Chúa Kitô (như trong Memorial Acclamation [tung hô tưởng nhớ = Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa chịu chết,và tuyên xưng Chúa sống lại, cho tới khi Chúa đến.]) hoặc hát tán dương Thiên Chúa (như trong Vinh Danh). Nhưng truyền thống phụng vụ của chúng ta giao cho vị chủ tế vai trò cầu xin với Thiên Chúa thay mặt cho toàn thể giáo đoàn.

Căn Bản của Lời Nguyện Giáo Dân

Cơ cấu căn bản của LNGD theo đoạn 71 của Quy Chế thì như sau: Chủ tế (không phải là vị đồng tế hay thừa tác viên khác) mở đầu phần lời nguyện chung bằng lời nói với giáo đoàn và mời họ hãy cầu nguyện cho các nhu cầu của giáo hội và thế giới. Phó tế, ca trưởng (cantor) hay một thừa tác viên khác đọc các “ý chỉ” này, được viết theo kiểu cách nói với giáo đoàn. Mỗi một “ý chỉ” thường kết thúc với cùng một thể thức để giáo đoàn biết khi nào phải đáp ứng chung. Sự đáp ứng chung này là lời cầu xin. (Thí dụ: Chúng ta hãy cầu xin Chúa. Đ: Xin Chúa nhận lời chúng con). Sau ý chỉ cuối cùng và phần đáp ứng, chủ tế (không phải là vị đồng tế hay thừa tác viên khác) cầu nguyện theo kiểu gom góp lại các lời cầu của giáo đoàn và kết thúc phần LNGD.

Thứ tự của các ý chỉ như sau:

Trong một số nghi thức, tỉ như hôn lễ, tang lễ, thêm sức, v.v., các lời nguyện có thể chỉ đề cập đến biến cố đặc biệt này.

Một vài thí dụ:

Các lời nguyện chung phải rõ rệt và cụ thể. Đừng coi đó là dịp để “giảng dậy,” để nói lên quan điểm riêng của mình. Thí dụ, “Cầu cho những ai đang tiếp tay trong việc phá thai, để họ sẽ thấy được sự xấu xa của tội lỗi mình”, v.v.

Một hình thức khác để viết lời nguyện giáo dân là trích dẫn một câu Phúc Âm, sau đó là ý cầu nguyện chung. Thí dụ:

Các lời cầu chung hay Lời Nguyện Giáo Dân nói lên sự tích cực tham dự của giáo đoàn trong phần này. Nhưng hình thức cổ điển của lời nguyện, hình thức kinh cầu, ám chỉ rằng sự tích cực tham dự của giáo dân trong lời nguyện chỉ giới hạn vào phần đáp ứng sau mỗi lời nguyện mà theo truyền thống được phó tế đọc.

Vì coi các lời nguyện chung là “lời nguyện của giáo dân”, một số người đã soạn các ý chỉ này như lời cầu xin thay vì một phát biểu với giáo đoàn (trái với những thí dụ trong sách lễ), được nhiều thừa tác viên đọc các ý chỉ, hoặc ngay cả cho phép bất cứ ai hiện diện nói lên ý chỉ để cầu nguyện. Vì sách Quy Chế đưa ra rất ít hướng dẫn về các lời nguyện chung, phần phụng vụ này thừa nhận một số thay đổi. Nhưng đồng thời, người ta phải tôn trọng bản chất và hình thức truyền thống của nó. (Xem 2000 GIRM, 69 – 71; IL, 30 – 31).

Pt Giuse Trần Văn Nhật tổng hợp từ các tài liệu phụng vụ

© 2015 photevnusa.org