NHỮNG ĐAN VIỆN METEORA, GREECE

Monastery

1. Một chút về sự lôi cuốn kỳ diệu của những đan viện Meteora, Greece

Meteora cách thủ đô Athens về phía bắc khoảng năm giờ xe chạy. Nơi đây có những đan viện lớn, cổ kính và quan trọng nhất ở thành phố miền núi Kalambaka. Các đan viện được xây dựng trên các cột núi đá tự nhiên tại hướng đông bắc của đồng bằng Thessaly, gần sông Peneios và dãy núi Pindus của miền trung Hy Lạp.

Vào thế kỷ 14, đế quốc Byzantine trên đà suy yếu và các cộng đoàn đan sĩ ở bán đảo Athos ngày càng bị đám cướp biển Thổ Nhĩ Kỳ bao vây. Họ buộc phải rời bỏ đan viện Iviron, trên bờ biển phía Tây của bán đảo, để tìm kiếm một nơi ở mới an toàn hơn. Họ đã chuyển đến một vùng đất mới, nơi có những rừng đá tuyệt vời làm nơi trú ẩn. Các tu sĩ bắt đầu xây dựng những đan viện đầu tiên. Quá trình xây dựng những đan viện này rất khó khăn và vất vả, vì tất cả đều nằm trên những đỉnh núi đá cao chót vót. Nhưng với niềm xác tín vào sự quan phòng của Thiên Chúa, với lòng nhiệt thành và sự kiên nhẫn, các đan sĩ đã miệt mài xây dựng được 24 đan viện tráng lệ trong 3 thế kỷ.

Khi sương mù xuất hiện, các tòa nhà đan viện giống như đang trôi trong mây. Vì thế, Meteora theo ngôn ngữ Hy Lạp nghĩa là in the air, hanging between earth and heaven. Tiếng Việt tạm dịch là "lơ lửng trong không trung,” hoặc thiên đường bên trên... Vẻ đẹp tự nhiên và linh thiêng của những đan viện trên núi đá đã quy tụ một số đông dân cư sinh sống sầm uất vào cuối thế kỷ 14. Tuy nhiên, cuộc sống thanh bình không kéo dài được lâu. Chiến tranh và bạo động xảy ra, đã cướp đoạt của cải tài sản người dân, khiến cho vùng đất rơi vào sự hỗn loạn trầm trọng. Sau này, người Kitô Giáo đến và cố gắng xây dựng lại, nhưng không thể trùng tu các đan viện giống như ban đầu.

Vào thế kỷ 18, các đan viện Meteora đã trở thành nơi ẩn náu cho quân đội Hy Lạp, và cho quân đội Đức và Ý chiếm đóng trong Thế Chiến thứ II. Qua bao thăng trầm, nay Meteora chỉ còn 6 đan viện nguyên vẹn, là nơi sinh sống cho các đan sĩ nam nữ. Gần một thế kỷ trước, phương tiện lên những đan viện này vẫn còn là những thang dây, hoặc ngồi trong một cái giỏ treo và được kéo lên đan viện. Ngày nay, lối đi lên đan viện đã được cải tiến, với bậc thang bằng đá được xây dính vào núi đá, thang dây không còn xử dụng nữa.

Monastery

2. Linh Đạo của Đan Sĩ Chính Thống Giáo:

(The spirituality of the Eastern Orthodox Monasticism)

Tĩnh lặng nội tâm, thinh lặng bên ngoài, ăn chay, cầu nguyện, làm việc bác ái, dự các giờ kinh Thần Vụ, và nỗ lực hàng ngày để lớn lên trên đường nhân đức, là đòi hỏi cần thiết phải của đời sống ẩn tu. Nhưng những điều này vẫn chưa phải là chủ đích của đời sống người đan sĩ. Cùng đích thật của đời sống Kitô Chính Thống Giáo là có được Chúa Thánh Thần (The true aim of the Orthodox Christian life is the acquisition of the Holy Spirit). Chúa Thánh Thần liên lỉ giúp người đan sĩ đến gần Thiên Chúa, qua việc canh chừng cảm xúc thân xác. Khôn ngoan của trí tuệ được dùng để thức tỉnh con tim, giúp tâm hồn luôn giữ được lòng bình tâm.

Chính Thống Giáo dậy rằng, trái tim là tâm điểm sự sống con người, là nguồn mọi sức mạnh về tri thức và ý lực (both in the intellect and the will). Trái tim còn là nơi tuôn đổ mọi nguồn nước thiêng liêng để nuôi sống linh hồn. Theo 3 Macarius of Egyt (Saint Anthony of the Great, Father of All Monks), “Trái tim là nơi hội họp của thần lành và thần dữ,” là con tầu chuyên chở mọi điều sai lầm. Nhưng trái tim cũng là nơi “Thiên Chúa hiện diện. Nơi có các thiên thần, có sự sống và vương quyền, có ánh sáng và các Thánh Tông Đồ, có kho tàng của mọi ân sủng.”

Pt. Gioan Vũ Hiến

Vũ Hiến

References:

1. Meteora, the Greek Orthodox monasteries, http://en.wikipedia.org/wiki/Meteora, 1991
2. Theocharis M. Provatakis, Meteora: History of the Monasteries and Monasticism, (Michalis Toumbis Editions, Athens, 1991)
3. Wikipedia, the free encyclopedia,Anthony the Great, http://en.wikipedia.org/wiki/Anthony_the_Great, 15 June 2013

© 2015 photevnusa.org